Tìm kiếm
 
Đầu xuân nhớ về Châu Đốc vía Bà Chúa Xứ

Lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam đang ngày càng chứng tỏ là một lễ hội văn hóa dân gian lớn ở Nam bộ. Mỗi năm thu hút hàng chục vạn khách thập phương về hành lễ. Họ đến đây mang theo những ý nguyện, mong cầu Bà Chúa ban phước lộc hoặc gỡ rối nạn kiếp, tai ương... tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng. Khách về đây không những chỉ xin lộc của Bà mà còn muốn tận mắt được chứng kiến những chứng tích lịch sử dân tộc khác nữa mà cha ông ta đã dày công vun dựng trên vùng đất An Giang hùng vĩ.



Lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam đang ngày càng chứng tỏ là một lễ hội văn hóa dân gian lớn ở Nam bộ. Mỗi năm thu hút hàng chục vạn khách thập phương về hành lễ. Họ đến đây mang theo những ý nguyện, mong cầu Bà Chúa ban phước lộc hoặc gỡ rối nạn kiếp, tai ương... tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng. Khách về đây không những chỉ xin lộc của Bà mà còn muốn tận mắt được chứng kiến những chứng tích lịch sử dân tộc khác nữa mà cha ông ta đã dày công vun dựng trên vùng đất An Giang hùng vĩ. 

Lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam đang ngày càng chứng tỏ là một lễ hội văn hóa dân gian lớn ở Nam bộ. Mỗi năm thu hút hàng chục vạn khách thập phương về hành lễ. Họ đến đây mang theo những ý nguyện, mong cầu Bà Chúa ban phước lộc hoặc gỡ rối nạn kiếp, tai ương... tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng. Khách về đây không những chỉ xin lộc của Bà mà còn muốn tận mắt được chứng kiến những chứng tích lịch sử dân tộc khác nữa mà cha ông ta đã dày công vun dựng trên vùng đất An Giang hùng vĩ. 

Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam được xây dựng theo lối kiến trúc hoành tráng, bề thế. Bên trong thờ tượng bà Chúa Xứ ngồi uy nghi giữa gian chánh điện. Pho tượng nữ thần tuyệt đẹp được tạc bằng đá son, có từ thế kỷ thứ VI. Đôi mắt tròn rực sáng. Chiếc áo và mão bà mặc được kết bằng nhiều loại kim tuyến quý giá.

Nguồn gốc tượng bà Chúa Xứ đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Theo diễn giải của các vị bô lão, tượng Bà ngày xưa ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá bà ngồi vẫn còn tồn tại và ngày nay được bảo vệ như một chứng tích. Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 3,4 tấc, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn.

                  

          

                                   Những lễ vật khách thập phương cúng 

Bên trái miếu là nơi trưng bày những chiếc áo, mão kết cườm lóng lánh mà khách thập phương đến viếng cúng cho bà. Ban quản lý khu di tích Miếu Bà Chúa Xứ cho biết: Tiền hỷ cúng vào miếu Bà hằng năm lên tới vài tỷ đồng (trong đó có vàng, USD và những chuỗi đá ngọc trai quí giá cùng những chiếc áo mão trị giá đến vài cây vàng...). Nguồn tài chính này ngoài việc dùng để trùng tu, xây dựng lăng, miếu còn góp phần vào nhiều công trình phúc lợi xã hội của địa phương như làm đường, xây trường học, bệnh xá, đóng góp quỹ từ thiện, khuyến học...

Theo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị xã Châu Đốc: Các lễ cúng ở miếu Bà vẫn được duy trì. Lễ đầu tiên là “Lễ Tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24/3 âm lịch. Mở đầu là 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản tự chùa niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng tạc ở tư thế ngồi bằng đá xanh, đường nét tạc tinh tế, sắc sảo. Bà được tắm bằng một loại nước thơm ướp từ nhiều loại hoa. Sau đó bộ đồ đẹp nhất của khách đến cúng viếng được khoác lên bức tượng cùng với áo mũ, cân đai. Chiếc màn vải kéo qua, khách hành hương đến thắp hương, dâng lễ xin lộc. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…


Tiếp theo là “Lễ Cúng Túc Yết”, được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26/4 âm lịch. Đây là lễ cúng chánh thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, nhị vị phu nhân và các tướng lĩnh của ông về miếu Bà. 

          

                                          Tượng Thoại Ngọc Hầu


Đoàn thỉnh sắc có đội lân đi trước, tiếp theo là chiếc kiệu sơn son thiếp vàng do 4 người khiêng. Hai hàng học trò đứng lễ tay cầm cờ phướn suốt đoạn đường lên lăng Thoại Ngọc Hầu. Lễ vật dâng cúng gồm một con heo trắng làm sẵn (chưa nấu chín), một đĩa đựng huyết, một ít lông heo gọi là “mao huyết”, một mâm xôi, một mâm trái cây – trầu cau và một đĩa gạo – muối. Đúng giờ hành lễ, ban quản trị đốt hưong đèn nghi ngút, dâng tuần trà rượu và đọc văn tế, sau đó đốt đi cùng với một ít vàng mã, con heo cũng được lật trở lại.

Các ngày lễ tiếp theo gồm có: Xây chầu, Lễ Cúng Chánh Tế, Lễ Hồi Sắc… sẽ nối tiếp diễn ra nhằm nhớ ơn các bậc tiền nhân có công trong những buổi đầu mở đất - cầu mong cho mưa thuận gió hòa, nhân dân khỏe mạnh, trường thọ… Cuối dịp lễ sẽ là Lễ Thỉnh Sắc Thần (tức Lễ Rước sắc Thoại Ngọc Hầu cùng chư vị về lại lăng) - kết thúc nghi lễ dịp lễ hội vía Bà.        
     

          


Lăng Thoại Ngọc Hầu nằm ung dung, đường bệ ngay bên cạnh Miếu Bà Chúa Xứ với những đặc điểm: Mặt nhìn ra con đường nằm bên chân núi, lưng quay về vách đá, toạ lạc trên thềm cao với chín bậc thang xây bằng đá ong. Lăng xây bằng hồ ô đước. Bao bọc quanh khu mộ là bức tường dầy hàng mét, cao hơn đầu người, đã nhuốm rêu phong. Phía trước có hai cửa lớn theo kiểu kiến trúc lăng tẩm xưa, hai bên có hàng liễn đối. Phía sau là đền thờ được xây trên nền cao. Trong đền có thờ bài vị của Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân, có áo mão cân đai của ông được phục chế và nhiều nghi thờ với các bộ lư đồng. 

                

           

                                                                       Kinh Vĩnh Tế

Trong lăng, chính giữa là mộ Thoại Ngọc Hầu. Ông tên thật là Nguyễn Văn Thoại, sinh năm Tân Tỵ (1761) tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Dưới triều Nguyễn, ông được cử làm Trấn thủ Vĩnh Thanh gồm các tỉnh Châu Đốc, Sa Đéc, Vĩnh Long và một phần Kiên Giang. Ông đã có công lớn trong việc khẩn hoang lập ấp, đào kinh đắp đường phát triển và bảo vệ vùng đất Tây Nam. Các công trình lớn của ông để lại cho đời sau là: Lộ Núi Sam- Châu Đốc dài 5km; Kinh Thoại Hà dài hơn 30.000m ở núi Sập (Thoại Sơn). Đặc biệt là Kinh Vĩnh Tế dài theo biên giới Tây nam nối liền Châu Đốc- Hà Tiên, nối lưu thông sông Châu Đốc ra vịnh Thái Lan, dài hơn 90km. Để ghi nhận công đức người vợ đắc lực của Thoại Ngọc Hầu, bà Châu Thị Tế, vua Minh Mạng đã đặt cho con kinh chiến lược này: kinh Vĩnh Tế.

Bên mộ ông là mộ bà vợ chính Châu Thị Tế. Bên trái có ngôi một khiêm nhường hơn là của bà vợ thứ Trương Thị Miệt. Thoại Ngọc Hầu mất năm Kỷ Sửu (1829), thọ 68 tuổi.

                   

          


Trong nội lăng còn có 14 ngôi mộ và ngoại vi lăng còn có 50 ngôi mộ với nhiều hình thức khác nhau: voi phục, trái đào, cái nón... Đây là những ngôi mộ vô danh của các cận thần, thân tộc và những người có công đã chết trong cuộc đào kinh Vĩnh Tế gọi là Nghĩa trủng.

                   

          

                                                                       Bồ Đề Đạo Tràng
Về Châu Đốc, bạn cũng đừng quên ghé thăm Bồ Đề Đạo Tràng. Ngôi chùa nhỏ nhưng tráng lệ nằm ngay trung tâm thị xã. Chính giữa khuôn viên chùa là cây bồ đề có lịch sử đặc biệt: Cây bồ đề này là con của cây bồ đề linh thọ mà xưa kia Đức Phật Thích Ca ngồi thiền và đắc đạo tại Ấn Độ. Giáo hội Phật giáo Châu Đốc sang tận Ấn Độ mang cây bồ đề quý này đem về năm 1951, và hạ thổ năm 1952. Trồng được vài năm, cây đã lên cao, to lớn, tươi tốt. Trước cổng tam quan, mặt tiền của chùa đi vào có một khoảng sân rộng lát gạch trắng, thờ tượng Phật bà Quan Âm bằng đá cao chừng 5m đứng giữa một hồ sen./.

Lộc Khanh Hưng (VOVNEWS)
Các tin khác